Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi cố ý làm mất tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội [1], trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng và có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.

Hành vi gây rối trật tự công cộng là các hành vi xâm phạm đến con người, đến quyền hoặc lợi ích hợp pháp của họ hoặc xâm phạm đến sở hữu và diễn ra tại nơi công cộng. Trong đó, nơi công cộng được hiểu là những địa điểm “kín” (rạp hát, rạp chiếu bóng…) hoặc “mở” (sân vận động, công viên, đường phố…) mà ở đó các hoạt động chung của xã hội được diễn ra thường xuyên hoặc không thường xuyên.

Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội gây rối trật tự công cộng

1. Chủ thể

Chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng không phải chủ thể đặc biệt, chỉ cần người có hành vi gây rối trật tự công cộng đủ độ tuổi chịu trách nhiệm và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này. Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì chỉ người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nếu hành vi gây rối trật tự công cộng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì người có hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Khách thể

Đối với khách thể của tội gây rối trật tự công cộng là tội phạm xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Ngoài ra còn xâm phạm đến các hoạt động đi lại, làm việc, vui chơi, nguyên tắc an toàn nơi công cộng tại nơi có nhiều người qua lại, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của những người xung quanh. Hành vi này cũng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện những đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước trong quá trình ổn định đời sống của người dân.

3. Mặt khách quan

Thứ nhất, về hành vi khách quan: là hành vi phá vỡ tình trạng ổn định, có kỉ luật. Hành vi đó có thể là: lời nói như chửi bới, la hét hoặc là việc làm như đập phá tài sản, xô đẩy người, tạo ra âm thanh ầm ĩ bằng các công cụ khác nhau hoặc mở thiết bị âm thanh quá cỡ…

Khi xác định hành vi gây rối trật tự cần phải phân biệt với hành vi tuy có gây rối trật tự công cộng nhưng đã cấu thành một tội khác thì người có hành vi gây rối chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng mà họ đã thực hiện, mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng. Chẳng hạn, một người có hành vi gây rối trật tự công cộng, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội, hoạt động bình thường, ổn định của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhưng có mục đích chống chính quyền nhân dân thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá rối an ninh (Điều 118 BLHS năm 2015).

Thứ hai, về hậu quả của tội phạm: hậu quả của tội phạm được quy định là ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như ách tắc giao thông, làm gián đoạn hoạt động của cơ quan, tổ chức… Hậu quả trên đây có thể được thay thế bằng dấu hiệu nhân thân “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” về hành vi này mà chưa được xóa án tích.

4. Mặt chủ quan

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi gây rối trật tự công cộng là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Động cơ, mục đích của người phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này và do vậy, chúng không ý nghĩa trong việc xác định tội phạm.

Hình phạt

Khung cơ bản, có mức phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.[3] So với hình phạt tiền được quy định tại khoản 1 Điều 245 BLHS năm 1999 (từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng) thì mức phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS năm 2015 tăng gấp 5 lần. Việc sửa đổi hình phạt tiền theo hướng tăng mức tiền phạt là hoàn toàn cần thiết, bởi vì mức phạt cũ quá thấp không đủ răn đe người phạm tội cũng như những người khác có ý định phạm tội này trong tình hình hiện nay.

Khung tăng nặng, có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm[4] áp dụng cho trường hợp phạm tội sau:

+ Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm được quy định trong khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015;

+ Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách: dùng vũ khí, hung khí như dùng súng thể thao quốc phòng, súng săn, súng kíp, súng hỏa mai, dao găm, mã tấu, kiếm, giáo mác, thuốc nổ và kíp mìn dùng trong sản xuất không phải là vũ khí quân dụng. Nếu dùng vũ khí quân dụng như súng ngắn, súng trường…để thực hiện hành vi gây rối thì người phạm tội không chỉ bị xử lý về tội này mà còn có thể bị xử lý về tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Điều 304 BLHS năm 2015); hành vi phá phách là hành vi hủy hoại các đồ vật ở nơi công cộng như đập phá tượng trong công viên, đập phá, đốt xe ô tô ở trên đường…Nếu hành vi sử dụng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách gây rối không chỉ gây ra tình trạng hỗn loạn, vô tổ chức, vô kỷ luật ở công cộng mà còn gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì người phạm tội còn có thể bị xử lý về các tội giết người, cố ý gây thương tích hoặc tội hủy hoại tài sản theo nguyên tắc phạm nhiều tội;

+ Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng được hiểu là cản trở, ách tắc giao thông từ 2 giờ trở lên hoặc gây cản trở giao thông ở những tuyến giao thông quan trọng, làm ách tắc giao thông trên diện rộng không phân biệt thời gian bao lâu;

+ Xúi giục người khác gây rối là người xúi giục thực hiện hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng được quy định tại khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015;

+ Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng, người phạm tội thực hiện hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực uy hiếp tinh thần người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng. Người can thiệp bảo vệ công cộng có thể là bất kỳ người nào có hành vi cản trở như bằng lời nói góp ý, giải thích hoặc có các hành động khác ngăn cản như ôm, giữ người phạm tội đang thực hiện hành vi gây rối… Trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng là người đang thi hành công vụ tức là người có trách nhiệm bảo vệ trật tự công cộng như công an, dân quân tự vệ…thì người phạm tội còn có thể bị xử lý về tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 330 BLHS năm 2015 theo nguyên tắc phạm nhiều tội;

+ Tái phạm nguy hiểm.

Vấn đề về xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án của Tòa án quy định tại Điều 252 BLTTHS
Hình phạt đối với tội gây rối trật tự công cộng

Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm gần giống trong pháp luật hình sự Việt Nam

1. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội phá rối an ninh

          Tội phá rối an ninh (Điều 118 BLHS năm 2015) so sánh với tội gây rối trật tự công cộng có những điểm tương đồng như: Khách thể chung của các tội này đều xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự xã hội, an toàn xã hội, hoạt động bình thường, ổn định của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Hành vi khách quan đều là những hành vi gây rối, chống đối, cản trở. Ngoài ra, chủ thể của các tội phạm này là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện và đều thực hiện lỗi cố ý.

Tuy nhiên, tội gây rối an ninh khác biệt ở chỗ: tội phạm này xâm phạm an ninh chính trị, hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, xã hội với mục đích phá rối trật tự an ninh, thể hiện bất mãn, hống hách mà gây khó khăn cho hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức nhằm chống lại chính quyền nhân dân (Tội gây rối trật tự công cộng không nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân)

2. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội chống người thi hành công vụ

Về khách thể

Tội gây rối trật tự công cộng: Xâm phạm đến trật tự chung, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người nơi công cộng. Ngoài ra, còn có thể gây khó khăn cho hoạt động cho những người trong cơ quan Nhà nước và xã hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng

Tội chống người thi hành công vụ (Điều 330 BLHS năm 2015): Xâm phạm hoạt động công vụ của người thi hành công vụ, qua đó xâm phạm sự hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước

Về mặt khách quan (ở đây là hành vi khách quan)

Tội gây rối trật tự công cộng: có thể là lời nói như chửi bới, la hét hoặc là việc làm như đập phá tài sản, xô đẩy người, tạo ra âm thanh ầm ĩ bằng các công cụ khác nhau hoặc mở thiết bị âm thanh quá cỡ… 

Tội chống người thi hành công vụ: hành vi dùng vũ lực cản trở, chống lại người thi hành công vụ; đe dọa dùng vũ lực cản trở, chống lại người thi hành công vụ; hành vi dùng thủ đoạn khác cản trở, chống lại người thi hành công vụ hoặc ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật.

Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội gây rối trật tự công cộng và giải pháp hoàn thiện

Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng hiện vẫn còn một số hạn chế. Điển hình là vướng mắc tồn tại trong tình tiết gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong BLHS năm 2015.

Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội là nói đến hành vi của một cá nhân, pháp nhân làm ảnh hưởng, đe dọa, hoặc phá vỡ trật tự, kỷ cương của xã hội, khiến cho một bộ phận không nhỏ người dân, một khu dân cư hoặc một cộng đồng dân cư hoang mang, lo sợ, phẫn nộ hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, làm ảnh hưởng, đe dọa hoặc làm phá vỡ quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc xâm phạm đến những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức được mọi người tôn trọng, thừa nhận và tuân thủ.

Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng tình tiết này sẽ gặp những khó khăn nhất định vì chưa có hướng dẫn cụ thể, dễ có cách hiểu và nhận thức, áp dụng thiếu thống nhất vì đây là tình tiết mà hậu quả mang tính phi vật chất. Khi đánh giá tính chất, mức độ của hành vi để xác định gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội phải xem xét nguyên nhân, tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội đó có xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương xã hội, sự mất ổn định trong đời sống của người dân, có gây tâm lý hoang mang, lo sợ, phẫn nộ trong một phạm vi khu dân cư, vụ việc diễn ra có thường xuyên, liên tục, ảnh hưởng như thế nào, có gây khó khăn cho công tác quản lý hành chính nhà nước của chính quyền địa phương hay không… để có căn cứ xử lý đúng đắn, cụ thể.[2]

 

[1] Khoản 1, Điều 318, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), https://luatvietnam.vn/hinh-su/bo-luat-hinh-su-sua-doi-2017-115503-d1.html

[2] Hồ Quân, Về tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong “tội gây rối trật tự công cộng”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (2019), https://tapchitoaan.vn/ve-tinh-tiet-gay-anh-huong-xau-den-an-ninh-trat-tu-an-toan-xa-hoi-trong-toi-gay-roi-trat-tu-cong-cong

[3] Khoản 1, Điều 318, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), https://luatvietnam.vn/hinh-su/bo-luat-hinh-su-sua-doi-2017-115503-d1.html

[4] Khoản 2, Điều 318, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), https://luatvietnam.vn/hinh-su/bo-luat-hinh-su-sua-doi-2017-115503-d1.html

Tội gây rối trật tự công cộng - Hậu quả khi người đứng đầu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự - Báo Đại biểu Nhân dân

CÔNG TY LUẬT TNHH DBH

📞Hotline 1: 0935.207.888

 📧Email: luatdbh@gmail.com –  📧 Email: dbhvnlawfirm@gmail.com

🌐 Website: DBH Law Firm® (luatdbh.vn)