Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội là một trong các nguyên tắc trong tố tụng hình sự; nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội trước sự buộc tội của phía Viện kiểm sát; và đảm bảo cho phán quyết của Tòa án đưa ra công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vậy nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa trong TTHS là gì? Có ý nghĩa, vai trò như thế nào? Hãy cùng Luật DBH tìm hiểu qua bài viết dưới đây:

1. Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS là gì?

Quyền bào chữa đã được ghi nhận qua nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Nguyên tắc được ghi nhận là phương châm, định hướng chi phối toàn bộ quá trình từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Qua đó thể hiện tư tưởng, mục tiêu bảo vệ quyền con người của Nhà nước ta; phù hợp với xu thế phát triển chung của pháp luật quốc tế.

Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.
Theo đó, Hiến pháp 2013 đã mở rộng phạm vi đối tượng quyền bào chữa, không chỉ bị cáo mới có quyền bào chữa, mà đó còn là quyền của người bị bắt, bị tạm giữ.
Quyền bào chữa của người bị buộc tội được quy định nhằm bảo đảm cho họ trình bày quan điểm của mình đối với việc bị buộc tội, đưa ra các chứng chứ cần thiết, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ TNHS cho mình theo quy định của pháp luật. Hay “Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS là điều mà người bị bắt, bị tạm giam, bị can, bị cáo hưởng, được làm, được đòi hỏi trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình”.
Điều 16 BLTTHS 2015 ghi nhận nguyên tắc này với nội dung sau:
“Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Như vậy có thể hiểu là: “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là các hành vi tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật quy định. Được phép đưa ra các chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự”

2. Ai có thể bào chữa?

Quyền bào chữa của người bị buộc tội bào gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa. Hai quyền này có thể song song tồn tại mà không loại trừ lẫn nhau.

Quyền tự bào chữa

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa đông thời có quyền nhờ người bào chữa. Trong trường hợp nhờ người bào chữa thì họ vẫn có quyền tự bào chữa.
Luật tố tụng hình sự không chỉ quy định người bị buộc tội có quyền bào chữa mà còn quy định những bảo đảm cần thiết để quyền bào chữa được thực hiện.
Cụ thể như họ phải được giao nhận quyết định khởi tố, bản kết luận điều tra sau khi kết thúc điều tra, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử… để chuẩn bị bào chữa.
Trong quá trình bào chữa họ có thể sử dụng mọi biện pháp hợp pháp để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ tội.
Thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội là điều kiện cần thiết để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lí vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Quyền nhờ người bào chữa

Luật sư là người bào chữa chuyên nghiệp, hoạt động trong đoàn luật sư.
Luật sư chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội.
Bào chữa viên nhân dân là người được Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong những trường hợp theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lí là viên chức nhà nước, làm việc tại trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước.
Được chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ trợ giúp viên pháp lí theo đề nghị của giám đốc sở tư pháp.
Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa.

3. Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội trong những trường hợp do pháp luật quy định, nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ.
Trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước cử trợ giúp viên pháp lí, yêu cầu luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lí hoặc đề nghị Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viền của tổ chức mình trong những trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Người đại diện của người bị buộc tội tham gia tố tụng khi nào?

Người đại diện của người bị buộc tội là cá nhân cũng có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa trong trường hợp người bị buộc tội là người có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa, người có nhược điểm về tâm thần hoặc người dưới 18 tuổi.
Người đại diện của người bị buộc tội có thể là cha, mẹ, người giám hộ của họ.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho pháp nhân.

Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Không chỉ quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội điều luật còn quy định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
Điều này thể hiện nhà nước không chỉ coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
Bị hại, đương sự có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền ví lợi ích hợp pháp của họ.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa; bảo đảm cho bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.

4. Ý nghĩa của bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội

Quyền bào chữa là một quyền lợi cơ bản của công dân; được ghi nhận tại tất cả các bản Hiến pháp của nước Việt Nam. Việc ghi nhận quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự có ý nghĩa lớn về mọi mặt. Đây sẽ là một biểu hiện của tư tưởng bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Với tư cách là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự; việc bảo đảm quyền bào chữa là tiêu chuẩn, yêu cầu trong hoạt động tố tụng. Nâng cao trách nhiệm các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền; thực hiện tuân theo và bảo đảm nguyên tắc được vận dụng trong thực tiễn.

Nguyên tắc bảo đảm người bị buộc tội có quyền bào chữa sẽ giúp Tòa án xác minh sự thật khách quan của vụ án. Lắng nghe quan điểm và lập luận của cả hai bên là: “bên buộc tội” – Viện kiểm sát và bên “gỡ tội” – Người bào chữa cho người bị buộc tội (hoặc là người bị buộc tội nếu tự bào chữa). Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào chứng cứ và lập luận mà các bên đưa ra trong phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án. Từ đó đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trên đây là toàn bộ bài viết tham khảo về Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa cho người bị buộc tội theo BLTTHS 2015. Nếu có vấn đề gì hay câu hỏi cần giải đáp về các vấn đề pháp lý quý khách xin vui lòng liên hệ đến Luật DBH để được đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý hỗ trợ tận tình.

CÔNG TY LUẬT TNHH DBH

📞Hotline 1: 0935.207.888 

 📧Email: luatdbh@gmail.com 📧 Email: dbhvnlawfirm@gmail.com

🌐 Website: DBH Law Firm® (luatdbh.vn) 

 

.