Tình trạng người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay ngày càng tăng về số lượng trong thời gian gần đây do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vậy, khi có xảy ra hậu quả nghiêm trọng thì người chưa thành niên sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như thế nào. Qua bài viết này, đội ngũ chuyên viên Luật sư của văn phòng Luật sư DBH xin được phân tích, bình luận các quy định của pháp luật khi người thành niên thực hiện hành vi phạm tội.
1. Khái niệm tội phạm vị thành niên
Nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý, hiện tượng tội phạm ở trẻ vị thành niên nói riêng và tội phạm nói chung và trước hết là hiện tượng xã hội – pháp lý mang đầy đủ bản chất, đặc điểm của tội phạm có quá trình hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự vận động của đời sống xã hội. Hành vi phạm tội được hình thành và thực hiện bởi những cá nhân – thành viên của xã hội, được biểu hiện ra bên ngoài bởi mặt trái, mặt tiêu cực trong hành vi của họ, gây nguy hiểm đáng kể đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp trong cuộc đời của mỗi cá nhân. Về mặt sinh học và xã hội giai đoạn này mang các đặc điểm:
– Đặc trưng của giới tính bắt đầu được hoàn thiện hoàn chỉnh
– Sự phát triển tâm lý và đặc điểm cá nhân từ một đứa trẻ sang một người trưởng thành
Trong Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Người vị thành niên là khái niệm dùng để chỉ người chưa đủ tuổi để pháp luật công nhận công dân.” Tại Điều 20 BLDS 2015 quy định: “Người vị thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” điều này có nghĩa là tuổi vị thành niên là người dưới 18 tuổi. Căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam, Uỷ ban Dân số gia đình và Trẻ em đã đưa ra đề nghị xếp tuổi vị thành niên gồm 2 nhóm tuổi:
+ Nhóm 1: Từ 10-14 tuổi
+ Nhóm 2: Từ 14-18 tuổi
Từ những nhận xét trên có thể thấy vị thành niên là giai đoạn phát triển tự nhiên của con người, đánh dấu sự chuyển giao từ trẻ con sang người lớn xét về mặt tâm lý, sinh lý và nhận thức của mỗi người ở độ tuổi 10-18. Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là những biến đổi về sự tăng trưởng cơ thể, thay đổi về tâm, sinh lý, sự tích luỹ kiến thức và định hình nhân cách, tính cách của con người. Trong giai đoạn này, trẻ ở trạng thái “nửa người lớn nửa trẻ con”, chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, cũng như về mặt tâm- sinh lí, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, luôn có xu hướng muốn tự khẳng định mình, muốn được người khác tôn trọng, không hoặc ít tâm sự với cha mẹ, muốn tự làm theo ý mình, muốn độc lập trong suy nghĩ, hành vi, cảm xúc nên thường có những hành vi cãi lại, chống đối lại cha mẹ, dễ tự ti, hiếu thắng và dễ bị lôi kéo, rủ rê, kích động tham gia hoặc thực hiện các hành vi lệch chuẩn, nghiêm trọng hơn là dễ bị lây nhiễm vào những tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, đánh nhau… từ đó dẫn đến việc trẻ thực hiện hành vi phạm tội mà chính bản thân họ cũng không nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình đã và đang thực hiện.

Nhóm học sinh đánh nhau ở quận Hà Đông ngày 27-1 bị đưa về cơ quan công an. Ảnh: Báo Hà Nội mới
Lý giải nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên, nhiều nghiên cứu cho thấy, bên cạnh sự thay đổi về mặt tâm – sinh lý, sự thiếu hiểu biết về kinh nghiệm sống và nhận thức còn có một phần trách nghiệm lớn thuộc về gia đình, nhà trường và xã hội. Vì vậy, việc đặt ra yêu cầu phòng ngừa tội phạm ở trẻ vị thành thông qua các thiết chế này là vô cùng quan trọng.
2. Tình hình tội phạm ở trẻ vị thành niên hiện nay
Theo báo cáo của Chính phủ, hằng năm có đến 16.000-18.000 trẻ em chưa thành niên phạm tội, chiếm 15-18% / tổng số tội phạm. Thống kê của Bộ Công an trong giai đoạn 2018 – 2020, cả nước đã ghi nhận 10.786 vụ người chưa thành niên vi phạm pháp luật, với 16.583 đối tượng có liên quan. Trong đó, nữ giới chiếm 5%, nam giới chiếm đến 95%. Riêng năm 2020, đã ra 4.262 vụ, với hơn 6.500 đối tượng phạm pháp, tăng 8,5% so với năm 2019.
Tội phạm do người chưa thành niên gây ra chủ yếu là các tội: Trộm cắp tài sản (chiếm 34,30%); Cố ý gây thương tích (chiếm 8,95%); Gây rối trật tự nơi công cộng (chiếm 7,65%); Cướp giật tài sản (3,76%); Cướp tài sản (1,43%); Đánh bạc; Hiếp dâm, cưỡng dâm; Cưỡng đoạt tài sản; Giết người và một số tội danh khác.Về độ tuổi phạm tội ngày càng trẻ hóa, trong đó dưới 14 tuổi chiếm 13%; từ 14 – 16 tuổi chiếm 34,7%, từ 16 – 18 tuổi chiếm 52%. Đây là những con số rất đáng báo động về tình hình tội phạm ở trẻ vị thành niên ngày càng gia tăng và phức tạp ở nước ta.
3. Quy định của pháp luật Việt Nam về tội phạm vị thành niên
Trẻ em luôn là đối tượng được quan tâm hàng đầu. Nhà nước luôn tạo các điều kiện qua các chính sách an sinh xã hội, chính sách giáo dục để trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á tham gia Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (UNCRC), quyền và nghĩa vụ trẻ em được ghi nhận và nội luật hóa trong Hiến pháp 2013 và các văn bản luật khác như Luật hôn nhân và gia đình 2014, luật trẻ em 2016… là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ và thực thi quyền trẻ em ở nước ta.
Xuất phát từ khả năng nhận thức còn hạn chế, thể chất cũng như tình trạng tâm- sinh lý chưa phát triển hoàn thiện vì vậy người vị thành niên được xếp vào đối tượng yếu thế nhất là trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 cũng có điều luật áp dụng đối với người chưa thành niên nhằm mục đích phân loại xác định các tội do những người thành niên gây ra thiệt hại, các hình phạt xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật, các biện pháp giáo dưỡng hoặc các biện pháp khác tùy theo tính chất, mức độ, thiệt hại gây ra mức độ nguy hiểm cho xã hội phù hợp tâm lý, đặc điểm tại thời điểm người chưa thành niên thực hiện các hành vi phạm tội.
Trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 có 26 chương thì đã dành ra chương 12, nằm trong mục 1, bắt đầu từ Điều 90 đến Điều 91 về các quy định về người chưa thành niên phạm tội. Trong đó, nếu nêu rõ yêu cầu các của các cơ quan tố tụng nhất là thẩm phán xét xử vụ án phải có kiến thức hiểu biết về mặt tâm sinh lý, khoa học, giáo dục nhằm đấu tranh phòng, chống các tội phạm của những người chưa thành niên khi có hành vi phạm tội.
Theo Điều 12, BLHS 2015 đã quy định về độ tuổi chịu TNHS, theo đó người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm do mình gây ra, người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thì chỉ phải chịu TNHS về tội giết người, hiếp dâm, các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của luật hình sự. BLHS 2015 cũng đã dành riêng chương XII quy định về người dưới 18 tuổi, tại Điều 91 đã đặt ra nguyên tắc xử lý đối với người 18 tuổi.
Điều 91. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
“1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
2. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.”
Thông thường khi xét xử và áp dụng các khung hình phạt đối với người chưa thành niên khi các biện pháp giáo dục, phòng ngừa không hiệu quả và chỉ trong trường hợp thật sự cần thiết phải căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội còn phải căn cứ các đặc điểm về nhân thân của họ khi thực hiện hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Nguyên tắc khi xử lý đối với những người chưa thành niên trong thực tiễn xét xử, các văn bản của pháp luật có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu những người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội được gia đình giám sát, theo dõi, không gây không lớn, không nghiêm trọng hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
BLTTHS 2015 cũng đặt ra những thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự tại chương XXVIII nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ vị thành niên, Toà án chỉ áp dụng hình phạt tù đối với trẻ vị thành niên là tội phạm khi những biện pháp giáo dục, ngăn chặn khác không có hiệu quả, đây là nguyên tắc thể hiện tính nhân đạo, nhằm tạo điều kiện cho trẻ vị thành niên được sửa chữa sai lầm, tái hòa nhập cộng đồng.
+ Trong các giai đoạn tố tụng các vụ án hình sự khi điều tra giải quyết vụ án, truy tố của viện kiểm sát bằng các bản cáo trạng và xét xử tại tòa án thì các cơ quan này phải xem xét về khả năng nhận thức, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất nguy hiểm cho xã hội mà những người chưa thành niên đã gây ra. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự của những người chưa thành niên phạm tội nhằm mục đích của việc phòng ngừa tội phạm và căn cứ vào tính chất hành vi của tội phạm thì người chưa thành niên khi phạm tội chỉ áp dụng các hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sư trong trường hợp thực sự cần thiết khi truy cứu trách nhiệm hình sự. Thông thường, khi người chưa thành niên phạm tội thì tòa án sẽ áp dụng một trong những các biện pháp tư pháp khác nếu trong quá trình xét xử nếu không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì không áp dụng hình phạt với người chưa thành niên phạm tội. Hiện nay khi người chưa thành niên phạm tội thì sẽ hạn chế việc áp dụng hình phạt nhằm thực hiện chính sách khoan hồng đối với đối tượng đặc biệt nay nhằm mục đích giáo dục là chủ yếu nhất là hạn chế áp dụng các hình phạt tù có thời hạn trong bộ luật.
+ Đối với những người chưa thành niên phạm tội thì theo quy định của pháp luật không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình được quy định của pháp luật hình sự. Khi áp dụng hình từ mức phạt tù có thời hạn trở lên thì sẽ được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn so với mức hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên đủ 18 tuổi tương ứng khi người chưa thành niên phạm tội. Pháp luật ở nước ta quy định đối với người chưa thành niên phạm tội thì sẽ bị bị áp dụng các hình phạt bổ sung nếu có và khung hình phạt chính là phạt tiền thì không áp dụng với những người chưa thành niên từ mười bốn tuổi đến dưới mười sáu tuổi theo quy định. Hiện nay, thì khi mà người thành niên đã có bản án đã tuyên và có hiệu lực khi người phạm tội dưới 16 tuổi thì nếu người chưa thành niên lại tiếp tục phạm tội thì sẽ không tính là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm theo quy định của Bộ luật hình sự.
Trên đây là bài viết tham khảo về chủ đề “Quy định của pháp luật về tội phạm vị thành niên”. Nếu có thắc mắc hay vấn đề gì cần giải đáp bạn đọc xin vui lòng liên hệ đến Luật DBH để được các chuyên gia pháp lý hỗ trợ, giải đáp chi tiết.
📞Hotline 1: 0935.207.888
📧Email: luatdbh@gmail.com – 📧 Email: dbhvnlawfirm@gmail.com
🌐 Website: DBH Law Firm® (luatdbh.vn) – Facebook: fb.com/luatdbh.vn/
