1. Thủ tục nuôi con nuôi
1.1. Thẩm quyền đăng ký con nuôi
Thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật nuôi con nuôi năm 2010 với nội dung: Việc nuôi con nuôi phải được đăng ký tại UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp cha mẹ nuôi và con nuôi đều có quốc tịch Việt Nam thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi là UBND cấp xã nơi cư trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi.

Ảnh minh hoạ
Đối với trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì việc đăng ký nhận nuôi con nuôi phải được thực hiện tại UBND tỉnh, Sở Tư pháp cấp tỉnh nơi cư trú của con nuôi. Trong trường hợp công dân có quốc tịch Việt Nam tạm trú tại nước ngoài nhận con nuôi thì thực hiện đăng ký tại cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài theo khoản 2 và 3 Điều 9 Luật nuôi con nuôi năm 2010.
Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt nơi thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP như sau: trẻ bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng UBND cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận nuôi: UBND cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện việc đăng ký nuôi con nuôi,…
1.2.Hồ sơ và thủ tục đăng ký nuôi con nuôi
Hồ sơ của người nhận con nuôi quy định tại Điều 17 Luật nuôi con nuôi năm 2010 theo đó phải gồm các tài liệu: đơn xin nhận con nuôi, bản sao sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay thế, phiếu lý lịch tư pháp, văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân và giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật nuôi con nuôi. Trong trường hợp người nhận nuôi có quan hệ họ hàng thân thích với người được nhận nuôi thì cần có giấy tờ chứng minh quan hệ ấy. Nếu nhận nuôi có yếu tố nước ngoài thì cần thêm văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam,…
Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước cũng được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 18 Luật nuôi con nuôi năm 2010 bao gồm: giấy khai sinh; giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; 02 ảnh toàn thân, nhìn thẳng không chụp quá 06 tháng; biên bản xác nhận do UBND hoặc Công an xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi, quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất năng lực hành vi dân sự và quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.
Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại UBND cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi cư trú hoặc nơi người nhận con nuôi cư trú. Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày UBND cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ UBND cấp xã nơi nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, tiến hành xong việc lập ý kiến của những người theo quy định tại Điều 21 của Luật này.
Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha, mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha, mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ, trường hợp trẻ từ 09 tuổi trở lên được nhận làm con nuôi thì phải được sự đồng ý của trẻ đó.
2.Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
Kể từ ngày giao, nhận con nuôi, mối quan hệ cha mẹ con giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Đồng thời giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi cũng phát sinh các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các luật khác có liên quan.
Như vậy, kể từ ngày đăng ký con nuôi hợp pháp giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ và con, giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi; giữa con nuôi với gia đình cha mẹ đẻ cũng có các quyền, nghĩa vụ với nhau theo quy định của pháp luật.
2.1. Quan hệ giữa người nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 24, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, tôn trọng ý kiến của con, chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội… Con cũng có bổn phận yêu quý, kính trọng biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.
Cha mẹ nuôi được quyền thay đổi một số nội dung trong giấy khai sinh của con theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 24 Luật nuôi con nuôi năm 2010: theo đó khi cha mẹ nuôi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của trẻ em đó. Về dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha mẹ nuôi.
Đối với trường hợp cha mẹ nuôi chết, con nuôi là người được hưởng thừa kế của cha mẹ nuôi và khi chia thừa kế theo pháp luật thì con nuôi sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015. Trong trường hợp con nuôi chết thì cha mẹ nuôi cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất của con nuôi, bên cạnh cha mẹ đẻ của con nuôi.
2.2. Quan hệ giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình của cha mẹ nuôi.
Ngoài mối quan hệ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, Luật nuôi con nuôi năm 2010 còn quy định mối quan hệ giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi. Theo đó, con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em trong gia đình cha mẹ nuôi. Ông bà nội, ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm nom cháu. Đồng thời, cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng và hiếu thảo với ông bà nội, ngoại.
Về mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình cha mẹ nuôi thì anh, chị, em có bổn phận yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau, có quyền và nghĩa vụ đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
2.3. Quan hệ giữa người được nhận làm con nuôi với gia đình cha mẹ đẻ
Kể từ ngày giao và nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý tài sản và định đoạt tài sản riêng với con đã làm con nuôi, trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác. Thỏa thuận khác ở đây có thể là cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi được thỏa thuận về việc cha mẹ đẻ sẽ giữ lại một số quyền, nghĩa vụ đối với con khi đã cho con làm con nuôi và cách thức thực hiện các quyền này. Việc thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi phải được thể hiện bằng văn bản và được cán bộ tư pháp – hộ tịch xác định rõ khi lấy ý kiến của những người có liên quan về việc nuôi con nuôi.
Về vấn đề thừa kế, theo Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, con nuôi bảo tồn quyền thừa kế đối với di sản của những người thân thuộc do huyết thống con nuôi là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ ruột, là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ hai của anh, chị, em ruột, là người thừa kế thế vị của cha mẹ ruột trong di sản của ông bà nội (ngoại)… Như vậy, theo pháp luật, con nuôi vẫn có quyền thừa kế trong mối quan hệ với gia đình cha mẹ đẻ.
3. Chấm dứt nuôi con nuôi
3.1. Căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi
Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 25 Luật nuôi con nuôi gồm các trường hợp như sau:
Thứ nhất, con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi. Khi giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên vì lý do nào đó họ muốn chấm dứt quan hệ con nuôi và cả hai bên đều tự nguyện, không do cưỡng ép từ một phía và có yêu cầu chấm dứt thì Tòa án có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

Thứ hai, con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cha mẹ nuôi, ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi.
Thứ ba, cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi.
Thứ tư, vi phạm một trong các hành vi bị cấm được quy định tại Điều 13 Luật nuôi con nuôi:
+ Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, bắt cóc, mua bán trẻ em.
+ Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.
+ Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.
+ Nhà nước có quy định chính sách về dân số là mỗi gia đình chỉ được có hai người con. Nhưng vì gia đình muốn có thêm con mà lại sợ vi phạm chính sách dân số của Nhà nước nên cha mẹ ruột đã cho một bé làm con nuôi của một gia đình để có thể sinh thêm một bé khác. Vì vậy Nhà nước đã cấm hành vi lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.
+ Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ chính sách ưu đãi của Nhà nước.
+ Ông bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi..
+ Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Những hành vi trên bị cấm do trái với mục đích nuôi con nuôi, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích, thể chất, tinh thần, danh dự, nhân phẩm của người được nhận nuôi, cũng như ảnh hưởng đến truyền thống dân tộc và chính sách của Nhà nước. Do vậy, đây cũng chính là các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Đối với quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi: các tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 26 Luật nuôi con nuôi.
– Cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.
– Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi trừ trường hợp cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt.
+ Cơ quan lao động, thương binh và xã hội.
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
3.2. Hệ quả của chấm dứt việc nuôi con nuôi
Mối quan hệ nuôi con nuôi chỉ có thể chấm dứt bằng quyết định của Tòa án dựa trên các căn cứ về chấm dứt việc nuôi con nuôi. Quyết định của Tòa án là cơ sở pháp lý làm chấm dứt mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã được đăng ký trước đó. Khi đó hệ quả của việc chấm dứt sẽ phát sinh theo quy định tại Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010:
– Kể từ khi quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt. Cha mẹ nuôi sẽ không còn quyền và nghĩa vụ chăm sóc, cấp dưỡng, là người bảo hộ và đại diện theo pháp luật của con, quản lý tài sản của con nếu là con chưa thành niên. Đồng thời, con nuôi cũng không còn nghĩa vụ với cha mẹ nuôi kể từ ngày quyết định về việc chấm dứt nuôi con nuôi có hiệu lực pháp luật.
– Nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.
– Nếu con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Luật nuôi con nuôi sẽ được khôi phục lại.
– Nếu con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó, nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
– Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình trước khi được nhận làm con nuôi. Điều này giúp con nuôi tự chủ trong việc có quyền tìm lại nguồn gốc của mình cũng như có thể hòa nhập được trong trường hợp trở lại với nhà cha mẹ đẻ.
Như vậy, từ những khía cạnh nêu trên ta có thể thấy được hệ thống pháp luật Việt Nam đã quy định khá đầy đủ các nội dung cơ bản về vấn đề nuôi con nuôi trong nước cũng như nuôi con nuôi nước ngoài. Góp phần tạo điều kiện cho việc nuôi con nuôi được thực hiện thuận lợi, mang ý nghĩa và cơ hội cho các gia đình tìm được mái ấm hạnh phúc. Nếu có thắc mắc, hay câu hỏi về vấn đề nuôi con nuôi bạn đọc xin vui lòng liên hệ đến Luật DBH để được các chuyên gia pháp lý hỗ trợ, giải đáp chi tiết.
📞Hotline 1: 0935.207.888
📧Email: luatdbh@gmail.com – 📧 Email: dbhvnlawfirm@gmail.com
🌐 Website: DBH Law Firm® (luatdbh.vn) – Facebook: fb.com/luatdbh.vn/
