Cùng với  chất lượng cuộc sống người dân ngày càng được tăng lên tỉ lệ vô sinh, hiếm muộn đồng thời cũng gia tăng. Vì vậy mà nhu cầu nhận và xin con nuôi đang ở Việt Nam đang phát triển ở Việt Nam. Việc ban hành và thực hiện các quy định của luật nuôi con nuôi tại Việt Nam đã giúp cho nhiều trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi, cơ nhỡ có một mái ấm gia đình mới. Có được sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt hơn trong môi trường gia đình, được sự yêu thương của những người xung quanh nhằm tạo khởi đầu tốt để trẻ trở thành người có ích cho xã hội sau này. Mặt khác, việc nuôi con nuôi cũng giúp cho những cặp vợ chồng hiếm muộn, những người độc thân thực hiện được mong muốn, ước nguyện được làm cha, làm mẹ và có một mái ấm gia đình tròn vẹn hơn.

1. Khái niệm con nuôi, cha mẹ nuôi, nuôi con nuôi

Theo quy định tại Luật nuôi con nuôi năm 2010 “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”. Điều này có nghĩa rằng kể từ thời điểm nhận con nuôi, người nhận con nuôi có tư cách là cha, mẹ của trẻ em được nhận làm con nuôi. 

Ảnh minh hoạ

Mối quan hệ giữa con nuôi và cha, mẹ nuôi có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật như quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha mẹ nuôi với nhau theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Một người có thể làm con nuôi của một người (một cá nhân) hoặc của cả hai người là vợ chồng hợp pháp. Những trẻ em sẽ không được coi là con nuôi khi được chăm sóc, nuôi dưỡng bởi người giám hộ, cơ quan Nhà nước cũng như các tổ chức xã hội khác.

Như vậy, nuôi con nuôi là việc một người hoặc một cặp vợ chồng có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhận một hoặc nhiều trẻ em làm con nuôi của mình theo thủ tục quy định mà không phải là người trực tiếp sinh ra đứa trẻ đó. Quan hệ gia đình giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được hình thành từ quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc và phải được đăng ký, công nhận bởi Nhà nước theo đúng quy định của Luật nuôi con nuôi và các luật khác có liên quan.

2. Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi

Luật nuôi con nuôi được ban hành và thực thi bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi có điều kiện được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội và bảo đảm cho người nhận con nuôi được quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng khi già yếu, ốm đau, tàn tật từ con cái. Hơn nữa, việc nuôi con nuôi phải tuân theo các quy định pháp luật như các điều kiện để có thể nhận con nuôi.

Thông qua hoạt động thực hiện pháp luật nuôi con nuôi, mục đích của Nhà nước khi ban hành Luật nuôi con nuôi đã được hiện thực hóa, từ đó giúp điều hành và quản lý, thiết lập cũng như tạo điều kiện để giữ gìn trật tự xã hội trong lĩnh vực nuôi con nuôi một cách có hệ thống và thống nhất. Như vậy, thực hiện pháp luật nuôi con nuôi có các ý nghĩa:

– Bảo vệ thiết thực quyền trẻ em đặc biệt là quyền được sống trong môi trường gia đình của trẻ, giải quyết được tình trạng trẻ em không có người chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật nuôi con nuôi.

– Thực hiện Luật nuôi con nuôi có hiệu quả sẽ có ý nghĩa bảo đảm mục đích đưa Luật nuôi con nuôi đi vào cuộc sống và các quy định của pháp luật nuôi con nuôi trở thành hiện thực.

– Nhằm đạt được những mục đích cơ bản của pháp luật nuôi con nuôi, đồng thời có thể phát hiện được những hạn chế, bất cập trong các quy định của Luật nuôi con nuôi, từ đó có cơ sở đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn khung pháp lý về nuôi con nuôi.

– Tạo cơ chế thuận lợi và sự an toàn về mặt pháp lý cho quan hệ nuôi con nuôi, đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ em được nhận làm con nuôi một cách hợp pháp và hiệu quả.

– Mặt khác, có hướng xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi hoặc những tranh chấp xảy ra xoay quanh vấn đề quan hệ nuôi con nuôi.

3. Mục đích của việc nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi có bản chất là mang đến cho đứa trẻ một mái ấm gia đình. Người nhận nuôi con nuôi có thể có những lý do khác nhau như vì mục đích nhân đạo hay do vô sinh, hiếm muộn,…nhưng tất cả những lý do đều phải xuất phát từ sự tự nguyện, hiểu biết và có tình cảm. Mặt khác, nếu việc nhận nuôi con nuôi có mục đích phi nhân đạo, trái pháp luật, lợi dụng sự nhân văn của pháp luật nuôi con nuôi để thực hiện mục đích lợi dụng trẻ em nhằm trục lợi thì được coi là không có giá trị pháp lý. Do vậy, pháp luật sẽ có những biện pháp xử lý đối với các trường hợp này tùy theo mức độ vi phạm của hành vi. 

Ảnh minh hoạ

Việc kiểm tra nhằm bảo đảm mục đích của việc nuôi con nuôi là xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm con nuôi được chăm sóc, giáo dục trong môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cụ thể theo quy định tại Điều 2 Luật nuôi con nuôi năm 2010 mục đích của việc nuôi con nuôi là “nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”.

Việc nuôi con nuôi được bảo đảm thực hiện trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, bảo đảm cho trẻ được lớn lên trong môi trường gia đình, trong sự yêu thương, chăm sóc và cảm thông, bảo vệ trẻ em trước những hành vi vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật. Nhận trẻ làm con nuôi nhằm chống nạn buôn bán trẻ em, kinh doanh bất hợp pháp dịch vụ nuôi con nuôi vì mục đích trục lợi. Tránh những hành động không đúng với mục đích hợp pháp của việc nuôi con nuôi và không xuất phát từ mục đích nhân đạo, không xuất phát từ sự tự nguyện. 

4. Điều kiện nuôi con nuôi

4.1. Điều kiện của người được nhận làm con nuôi

Đối với người được nhận làm con nuôi, các điều kiện được quy định tại Điều 8 Luật nuôi con nuôi, theo đó trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi trong các trường hợp được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Một người chỉ được nhận làm con nuôi của một người độc thân hoặc của hai người có quan hệ vợ chồng hợp pháp. Ngoài ra, Nhà nước cũng khuyến khích việc nhận trẻ em bị bỏ rơi, trẻ mồ côi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn làm con nuôi.

Về độ tuổi, theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016, trẻ em là người là người dưới 16 tuổi. Với mục đích chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ được nhận làm con nuôi trong môi trường gia đình nên độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi trong Luật nuôi con nuôi phải có sự đồng bộ, có quan hệ mật thiết với độ tuổi được coi là trẻ em trong Luật trẻ em. Căn cứ theo đó mà Luật nuôi con nuôi đã quy định về độ tuổi được nhận làm con nuôi là trẻ dưới 16 tuổi. Mặt khác, trẻ em dưới 16 tuổi là trẻ chưa thành niên và chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, bởi vậy mà quan hệ nuôi con nuôi phát sinh sẽ giúp bảo đảm các quyền của trẻ dưới sự giám hộ của cha mẹ. Quy định độ tuổi như vậy cũng tạo điều kiện về sự chăm sóc, gắn bó tạo mối quan hệ tốt, lâu dài và bền vững giữa trẻ được nhận làm con nuôi và cha, mẹ nuôi của mình. 

Mặc dù độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm trong một số lĩnh vực nhưng về bản chất vẫn là người chưa thành niên, do đó việc tạo điều kiện để người độ tuổi này được tiếp tục sống với bố dượng, mẹ kế hoặc những người có cùng huyết thống là cần thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc.

Bên cạnh đó, quy định về việc một người chỉ được nhận làm con nuôi của một người độc thân hoặc của hai người có quan hệ vợ chồng hợp pháp nhằm đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi về điều kiện sống, về sự hòa hợp, ổn định, thống nhất trong cách sống và cách chăm sóc, giáo dục. Đồng thời, cũng nhằm tránh sự lạm dụng việc nuôi con nuôi để buôn bán trẻ em. Luật nuôi con nuôi có quy định một người chỉ được nhận làm con nuôi của một người hoặc hai người là vợ chồng tại cùng một thời điểm, nhưng nếu người được nhận làm con nuôi đã chấm dứt quan hệ con nuôi với cha mẹ nuôi theo thủ tục quy định thì trẻ em đó có thể xác lập quan hệ con nuôi với người khác.

Về ý chí, theo Điều 21 Luật nuôi con nuôi năm 2010, trong trường hợp trẻ em từ 9 tuổi trở lên thì khi được nhận làm con nuôi phải có sự đồng ý của trẻ. Đây là quy định thể hiện được sự tôn trọng về tự do ý chí của trẻ. Bởi lẽ, từ 9 tuổi trẻ đã có nhận thức về tình cảm, biết yêu ghét rõ ràng, do đó trẻ hoàn toàn có thể tự chủ về việc lựa chọn có đồng ý làm con nuôi của người đó hay không. Lúc này quan hệ nuôi con nuôi chỉ được xác lập khi có sự đồng ý từ cả hai phía người được nhận làm con nuôi và người nhận nuôi con nuôi.

4.2. Điều kiện của người nhận con nuôi

Đối với điều kiện của người nhận con nuôi, tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi đã nêu những điều kiện đầy đủ để nhận con nuôi. Theo đó, người nhận con nuôi phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hơn con nuôi 20 tuổi, có đủ các điều kiện để đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi như các điều kiện về kinh tế, sức khỏe, nơi ở và có tư cách đạo đức tốt. 

Thứ nhất, về năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên, mà không nằm trong các trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đây là một quy định cần thiết để đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một cách toàn vẹn. 

Thứ hai, về độ tuổi Luật nuôi con nuôi quy định phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên, nhằm đảm bảo cách ứng xử trong gia đình phù hợp với truyền thống và thứ bậc, việc chăm sóc, giáo dục con nuôi đạt được hiệu quả. Đồng thời, khi quy định như vậy sẽ tránh được phần nào những trường hợp nuôi con nuôi vì mục đích tình dục với người được nhận làm con nuôi. Đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc trong trường hợp cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận nuôi con nuôi thì độ tuổi không nhất thiết phải từ 20 tuổi trở lên và đạt đủ điều kiện nuôi dưỡng. 

Thứ ba, về điều kiện thực tế người được nhận làm con nuôi sẽ chỉ được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt khi người nhận nuôi có sức khỏe tốt, có thời gian quan tâm, chăm sóc con nuôi và có khả năng về kinh tế. Điều kiện về kinh tế cũng rất quan trọng để đảm bảo cho trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt, được sống trong môi trường lành mạnh, đầy đủ các điều kiện cần thiết để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

Thứ tư, về tư cách đạo đức người nhận con nuôi phải có tư cách đạo đức tốt, để đảm bảo mục đích nuôi con không chỉ đáp ứng về điều kiện thể chất mà các điều kiện về tinh thần cũng rất quan trọng. 

Những người thuộc các trường hợp sau sẽ không được nhận con nuôi:

– Người đang bị hạn chế quyền cha, mẹ đối với con chưa thành niên,

– Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, chữa bệnh,

– Người đang chấp hành hình phạt tù, người chưa được xóa án tích về các tội liên quan đến xâm phạm sức khỏe, ngược đãi người khác, mua bán trẻ em,… 

Tại khoản 6 Điều 13 Luật nuôi con nuôi năm 2010 cũng quy định ông, bà hoặc anh, chị, em không được nhận nhau làm con nuôi, vì điều này sẽ làm đảo lộn trật tự thứ bậc trong gia đình. Đồng thời, phân biệt rõ nội hàm và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi với việc nuôi dưỡng. Nuôi con nuôi làm phát sinh mối quan hệ cha mẹ và con, còn nuôi dưỡng là nghĩa vụ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình. Việc ông bà nhận cháu làm con nuôi khiến cháu trở thành con của ông bà hoặc anh chị nhận em làm con nuôi sẽ khiến anh chị lại trở thành cha mẹ của em, điều này làm ảnh hưởng đến thuần phong tục mỹ tục truyền thống.

Như vậy, để đảm bảo cho người nuôi con nuôi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ làm cha, mẹ của mình người nhận làm con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi đã nêu ở trên. Nếu có thắc mắc bạn đọc xin vui lòng liên hệ đến Luật DBH để được các chuyên gia pháp lý hỗ trợ, giải đáp chi tiết.

 

CÔNG TY LUẬT TNHH DBH

 📞Hotline 1: 0935.207.888 

 📧Email: luatdbh@gmail.com  📧 Email: dbhvnlawfirm@gmail.com

🌐 Website: DBH Law Firm® (luatdbh.vn) –  Facebook: fb.com/luatdbh.vn/