Để ràng buộc việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân được tự do trong khuôn khổ cho phép, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã đặt những giới hạn nhất định trong việc chia tài sản chung của vợ chồng thời kì hôn nhân, đồng thời cũng cho phép họ có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Vậy hãy cùng Luật DBH tìm hiểu về hệ quả chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, tại đây:

1. Thỏa thuận chấm dứt hiệu lực chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân theo pháp luật quy định:

Theo khoản 1 Điều 41 Luật HN&GĐ quy định: “Sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung”.

Nếu việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân chỉ cần một trong hai bên vợ, chồng có yêu cầu thì việc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chỉ có thể được thực hiện khi có sự đồng ý của cả vợ và chồng. Trường hợp một bên vợ hoặc chồng không đồng ý, người còn lại không có quyền khởi kiện yêu cầu khôi phục chế độ tài sản chung bằng con đường tư pháp. Đây là điểm khác biệt của việc chấm dứt hiệu lực chia tài sản chung, cho thấy vai trò của sự thỏa thuận và sự tự nguyện của vợ chồng khi có mong muốn “trở lại” với chế độ tài sản chung. Quy định này là hợp lý bở dù ở trong thời kì hôn nhân nhưng mỗi bên vợ, chồng vẫn có quyền được pháp luật tôn trọng quyền tài sản độc lập và bảo đảm sự tự định đoạt về tài sản của họ.

2. Yêu cầu về hình thức và nội dung thỏa thuận chấm dứt hiệu lực chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân                                       

Thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được thể hiện dưới dạng văn bản. Hình thức của thỏa thuận “trở lại” phải giống với thỏa thuận xác lập chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân. Trường hợp việc chia tài sản chung được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Luật HN&GĐ 2014.                                         
Quy định văn bản thỏa thuận chấm dứt việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Văn bản thỏa thuận là cơ sở pháp lý vững chắc, chỉ văn bản này có thể “xóa bỏ” văn bản thỏa thuận, quyết định, bản án của việc chia tài sản chung để giải quyết các tranh chấp về tài sản phát sinh giữa hai vợ chồng đồng thời bảo vệ quyền lợi của người thứ ba liên quan.Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định văn bản được công chứng theo quy định của vợ chồng hoặc theo quy định pháp luật mà không bắt buộc văn bản thỏa thuận phải công chứng. Hoạt động công chứng là công cụ quan trọng để xác định tính hợp pháp của thỏa thuận chia tài sản chung cũng như chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Vậy, ta nên có các quy định pháp luật liên quan đến việc những văn bản thỏa thuận được nhắc đến ở trên đều phải được công chứng tại cơ quan công chứng có thẩm quyền nhằm đáp ứng yêu cầu về sự trung thực, rõ ràng của văn bản, nâng cao giá trị pháp lý cho các văn bản thỏa thuận cũng như trách nhiệm của vợ chồng khi thỏa thuận.

Pháp luật hiện hành cũng không quy định rõ về nội dung trong văn bản thỏa thuận chấm dứt. Vậy, cũng cần có thêm quy định của pháp luật về việc xác định những nội dung cơ bản trong văn bản thỏa thuận chấm dứt chia tài sản chung vợ chồng (Tham khảo khoản 1 Điều 9 Nghị định 70/2001/NĐ-CP).

3. Hệ quả của việc chấm dứt hiệu lực việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Theo khoản 2, 3 Điều 41 Luật HN&GĐ 2014, tài sản mà vợ chồng đã được chia vẫn tiếp tục là tài sản riêng của vợ chồng, nhưng hoa lợi, lợi tức gắn liền với tài sản được chia không còn là tài sản riêng mà trở thành tài sản chung của vợ chồng. Có nghĩa kể từ khi thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng sẽ quay lại thực hiện theo Điều 33 và Điều 43 của Luật HN&GĐ 2014.
Có thể thấy, quy định này thể hiện sự phù hợp, tiến bộ của Luật HN&GĐ 2014, bởi dù trước hay sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bản chất hôn nhân giữa vợ chồng đều không thay đổi. Khi thỏa thuận chấm dứt việc chia tài sản chung có hiệu lực thì tài sản các căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng sẽ được khôi phục, quan hệ tài sản của vợ chồng lại được điều chỉnh như trước khi có việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Tuy nhiên, việc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung không hoàn toàn làm chấm dứt các quan hệ về tài sản của vợ, chồng đối với người thứ ba. Theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn sẽ có hiệu lực (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác). Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba, ngăn chặn việc trốn tránh không thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng sau khi nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Từ đó, vấn đề được đặt ra là nếu vợ, chồng cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì người thứ ba có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hay không, đồng thời vợ chồng khi trở lại với chế độ tài sản chung có trách nhiệm thông báo cho người thứ ba biết về sự kiện này không, hiện nay pháp luật vẫn chưa quy định rõ. Như vậy, pháp luật cần xem xét ký lưỡng những vấn đề nêu trên để bảo đảm quyền lợi của người thứ ba trong quan hệ tài sản với vợ chồng.

CÔNG TY LUẬT TNHH DBH

📞Hotline 1: 0935.207.888 

 📧Email: luatdbh@gmail.com –  📧 Email: dbhvnlawfirm@gmail.com

🌐 Website: DBH Law Firm® (luatdbh.vn)